Quan Vũ dùng đao hay dùng mâu?

Quan Vân Trương, hay còn gọi là Quan Vũ, hình ảnh của sức mạnh, uy nghiêm, bất khuất, tinh thần chiến binh bất bại...Một biểu tượng được giới chơi đồ gỗ mỹ nghệ tôn sùng.

 

do go my nghe

Tượng Quan Công bằng gỗ

"Tam quốc diễn nghĩa" viết Quan Vũ sử dụng "Thanh Long yển nguyệt đao" ("yển nguyệt" có nghĩa là bán nguyệt - hình tượng nửa vầng trăng), thực ra là một sự gán ghép nhằm nâng cao cốt cách, làm cho hình tượng nhân vật Quan Vũ thêm hùng dũng mà thôi chứ kỳ thực "Thanh Long yển nguyệt đao" phải mãi đến thời Tống mới xuất hiện, còn có tên gọi khác là "Yển nguyệt đao". Trong sách "Vũ kinh tổng yếu" thời Tống có tranh vẽ mô tả loại đao này...

"Thanh Long yển nguyệt đao" - binh khí nổi tiếng được nhắc đến nhiều nhất trong truyện "Tam quốc diễn nghĩa" của La Quán Trung là thanh đao gắn liền với hình tượng nhân vật Quan Vũ (tự Vân Trường, huynh đệ của Lưu Bị và Trương Phi, người được xếp thứ nhất trong năm ngũ hổ tướng của nhà Thục). Xưa nay, người ta đương nhiên cho rằng Quan Vũ dùng đao, với những truyền thuyết nghe đã thành quen: Lấy đầu Hoa Hùng quay về, chén rượu còn nóng; chém Nhan Lương, Văn Sú; qua năm ải chém sáu tướng… Cho đến ngày nay, thanh đao này còn được mệnh danh là "Quan đao" hoặc "Quan vương đao", chiếm vị trí quan trọng và được sự tôn sùng trong tâm thức của quần chúng, nhất là những người mê truyện "Tam Quốc diễn nghĩa".

quan vuNhưng trong thực tế lịch sử, Quan Vũ không hề sử dụng "Thanh Long yển nguyệt đao" mà lại sử dụng một loại binh khí khác - đó là mâu. Khắp trong chính sử, thời Tam quốc chưa từng có ai đã sử dụng "Thanh Long yển nguyệt đao".

"Tam quốc diễn nghĩa" viết Quan Vũ sử dụng "Thanh Long yển nguyệt đao" ("yển nguyệt" có nghĩa là bán nguyệt - hình tượng nửa vầng trăng), thực ra là một sự gán ghép nhằm nâng cao cốt cách, làm cho hình tượng nhân vật Quan Vũ thêm hùng dũng mà thôi chứ kỳ thực "Thanh Long yển nguyệt đao" phải mãi đến thời Tống mới xuất hiện, còn có tên gọi khác là "Yển nguyệt đao". Trong sách "Vũ kinh tổng yếu" thời Tống có tranh vẽ mô tả loại đao này. Tại thời Tam quốc, công nghệ chế tạo loại đao có bản rộng còn rất khó khăn, chưa thuần thục. Đao thời Tam quốc có dạng lưỡi thẳng, dài trên dưới một mét, đao của nhà Đông Ngô có độ dài khoảng 60cm, đao của nhà Thục dài chừng 1,2 mét trở lên, sống đao dày và cứng cáp, lưỡi mài sắc một cạnh bên, đầu mũi đao không sắc nhọn mà lại có một đầu tròn được buộc một dải vải để quấn chắc vào cổ tay để phòng cây đao có thể bị rớt khỏi tay khi tả xung, hữu đột.

Tuy rằng thời Tam quốc chưa xuất hiện "Thanh Long yển nguyệt đao", nhưng loại đao dài (trường đao) cán gỗ có khả năng đã được sử dụng. Các tác phẩm "Tam quốc chí", "Nguỵ thư", "Truyện Điển Vi" đều dẫn "Vi rất giỏi dùng đại song kích và trường đao" cho dù trong thời kỳ này loại trường đao có cán rất ít được nhắc đến. Binh khí mà các tướng lĩnh thời Tam quốc như Quan Vũ, Trương Phi, Lã Bố… sử dụng chủ yếu là mâu, gây sát thương bằng đâm.

Đến thời Đường, đại đao có cán dài đã trở thành loại binh khí chủ yếu số một. Một loại trường đao cực kỳ lợi hại lúc đó có hai lưỡi, phía đầu có mũi sắc nhọn, có thể vừa đâm, vừa chém gọi là "Mạch đao" được sử dụng nhiều nhất. Danh tướng nhà Đường là Lý Tự Nghiệp đã được mệnh danh là "Mạch đao tướng". Sang thời Tống, đại đao cán dài được chế tác rất nhiều và đa dạng, có Điếu đao, Khuất đao, Bút đao, Mi tiêm đao, Kích đao… tên gọi và hình thức thực là phong phú, muôn hình vạn trạng, đương nhiên là vẫn có cả "Yển nguyệt đao".

Theo Trần Phong Dân

  • Ngày 10/03/2016
  • Viết bởi Orion Data Convert
  • 0 Bình luận